Quan điểm của đại hội XIII về thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và vận dụng vào trong giảng dạy học phần chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Chính trị hiện nay

ThS. Nguyễn Thanh Mộng  
                                                                      Khoa Nhà Nước & Pháp Luật

         Tiến bộ, công bằng xã hội là sự kế thừa và phát triển toàn bộ những thành tựu về vật chất và tinh thần mà nhân loại đã sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng, giải phóng và phát triển toàn diện con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì tiến bộ xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ phát triển của con người thông qua việc thực hiện công bằng xã hội nhằm phát huy vai trò và khả năng con người trong nền sản xuất nói riêng và trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung.

         Khát vọng từ xa xưa của lịch sử loài người là có được cuộc sống đầy đủ về vật chất, tinh thần và sự công bằng, con người đã phải đấu tranh không ngừng với thiên nhiên, với những hình thức áp bức, bóc lột, bất công hay chấp nhận hy sinh để đạt được mục đích đó. Để giải phóng con người theo nghĩa đầy đủ của nó, chẳng những phải tăng trưởng kinh tế mà phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trên cơ sở quan điểm duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã phát triển hệ thống lý luận của mình về xây dựng một xã hội mới tiến bộ, công bằng, tạo điều kiện phát triển toàn diện các cá nhân trong xã hội trên cơ sở nhận thức và phương pháp luận duy vật biện chứng. Chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng quan điểm về tiến bộ và công bằng xã hội một cách đúng đắn và khoa học.

         Trong Đại hội XIII của Đảng, việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện rất rõ trong chủ đề của Đại hội: “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này thể hiện nhận thức mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng và tư duy mới về phương pháp, cách thức giải quyết của vấn đề xã hội và quản lý các quá trình phát triển của xã hội, luôn quan tâm đến vấn đề tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo sự phát triển hài hoà, ổn định, bền vững cho xã hội, xây dựng và giữ gìn môi trường sống tốt đẹp cho sự phát triển toàn diện và hoàn thiện con người Việt Nam hiện đại.

         Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, dân tộc, tôn giáo để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhận thức của toàn xã hội về tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội được nâng lên. Hệ thống luật pháp và chính sách được bổ sung nhằm điều tiết các quan hệ xã hội. Việt Nam đã hoàn thành hầu hết và cơ bản các mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là đã thực hiện tốt chỉ tiêu giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện nhiều chính sách để ổn định, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, quan tâm thực hiện chính sách chăm sóc người có công, đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách đối với người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, giảm nghèo bền vững, chăm sóc sức khoẻ cho người dân đồng thời tạo điều kiện để người dân chủ động phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro trong đời sống, kinh tế, xã hội và môi trường, đời sống và thu nhập của người dân không ngừng được nâng lên.

         Tuy nhiên, trong điều kiện mới đang có nhiều khó khăn, thách thức đặt ra, ảnh hưởng đến cuộc sống và sự phát triển bền vững của con người và xã hội. Đó là những vấn đề chung, có tính chất toàn cầu như: biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, nguồn nước, những ảnh hưởng tiêu cực của công nghệ đến lối sống, đạo đức xã hội, sự phân tầng xã hội, sự chênh lệch về hưởng thụ giữa các khu vực, tình trạng tội mất an toàn về giao thông, ô nhiễm môi trường, rác thải, tệ nạn xã hội còn phức tạp, v.v... Trong bối cảnh ấy, Báo cáo chính trị nhấn mạnh đến yêu cầu về “phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người” chính là nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của con người và xã hội, thể hiện đúng bản chất của chế độ ta là lấy con người là mục tiêu phát triển, là chế độ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

         Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh việc tiếp tục cải thiện điều kiện khám, chữa bệnh cho nhân dân, đổi mới chính sách bảo hiểm y tế, xây dựng và củng cố hệ thống y tế, nhất là hệ thống y tế dự phòng cấp tỉnh và Trung ương hình thành hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh đồng bộ ở tất cả các cấp và kết nối với mạng lưới kiểm soát bệnh tật thế giới; nâng cao năng lực nghiên cứu chủ động sản xuất vắc-xin, thuốc sáng chế.

         Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là một nội dung quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hiểu được ý nghĩa quan trọng đó, trong quá trình giảng dạy học phần CNXHKH ở trường Chính trị hiện nay cần có sự đầu tư nhiều hơn để có những kiến thức và tư liệu, số liệu thống kê nhằm là cho những lý luận của CNXHKH sinh động hơn, chứng minh được những giá trị cao đẹp về một xã hội mà chúng ta đang xây dựng, xã hội xã hội chủ nghĩa.

         Vì vậy, trong giảng dạy học phần CNXHKH ở trường chính trị hiện nay cần phải quán triệt những nội dung trong Đại hội XIII như sau:

         Thứ nhất, tiến bộ xã hội, công bằng xã hội ở nước ta là một trong những đặc trưng cơ bản trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm mục đích xóa bỏ mọi bất công, mọi áp bức, đem lại tự do hạnh phúc cho con người. Đây là sự nghiệp to lớn và triệt để nhất mà toàn Đảng toàn dân ta phấn đấu đạt tới. Mục tiêu lâu dài này được thể hiện cụ thể hóa trong giai đoạn đầu là khuyến khích mọi người dân tham gia làm giàu chính đáng, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì trở nên khá giả, người khá giả thì trở nên giàu có, đồng thời phải có những chính sách kinh tế - xã hội đặc biệt để trợ giúp người nghèo, tạo tiền đề phát triển. 

         Thứ hai, tăng trưởng kinh tế luôn luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đất nước. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện, tiền đề để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại thực hiện công bằng xã hội là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội một cách bền vững. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng kinh tế cao sau đó mới thực hiện công bằng xã hội và cũng không đơn thuần thực hiện công bằng xã hội một cách giản đơn thuần túy, cũng không phải thực hiện tăng trưởng kinh tế một cách độc lập tách rời công bằng xã hội. Đảng khuyến khích, tạo điều kiện mọi người dân làm giàu theo pháp luật, tạo mọi điều kiện để không có hộ nghèo đói. Khắc phục tư tưởng ỷ lại, bao cấp, đồng thời thực hiện cải cách tiền lương, tích cực tạo điều kiện trong việc chăm lo và bảo vệ sức khỏe cho người dân. Hoàn thiện các chính sách trợ cấp cho các đối tượng chính sách, đa dạng hóa các hình thức cứu trợ xã hội, dịch vụ y tế cho phù hợp với từng lĩnh vực, từng địa phương.

         Thứ ba, nguyên tắc để thực hiện công bằng xã hội là gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau, cống hiến khác nhau thì hưởng thụ khác nhau, tránh bình quân chủ nghĩa, cào bằng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội. Thực hiện phân phối trong kinh tế chủ yếu dựa vào kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác. Công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không đơn thuần là điều hòa lợi ích, phân phối và thu nhập của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội cho hợp lý mà còn phải đảm bảo cho mọi tầng lớp trong xã hội được hưởng các quyền lợi xã hội như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề nghiệp, được tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, có điều kiện và cơ hội phát triển, thể hiện năng lực cá nhân. Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế-xã hội. Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

         Thứ tư, công bằng xã hội phải được xem xét một cách toàn diện trong các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục… trên cơ sở sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, quyền lợi và nghĩa vụ trong việc tạo ra và phân chia các lợi ích xã hội. Trong các lĩnh vực đó, công bằng trong lĩnh vực kinh tế đóng vai trò quyết định. Công bằng trong kinh tế trong điều kiện hiện nay trước hết phải tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội phát triển khả năng, năng lực của mình, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh doanh, coi đó là một trong những bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân, chỉ như vậy thì mới phát huy được tính năng động sáng tạo, phát huy được mọi nguồn lực và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

         Thứ năm, Những thành quả mà nhân dân ta có được hôm nay là kết quả của cuộc đấu tranh liên tục, lâu dài trong gần nửa thế kỷ để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo về quyền độc lập, tự do, tự chủ của dân tộc, đã biết bao nhiêu anh hùng, thương binh, liệt sĩ, bao nhiêu người “tiền khởi nghĩa”, “có công với cách mạng” đã không tiếc máu xương, công sức vì lý tưởng cao cả cho toàn dân tộc, thì đương nhiên công bằng xã hội là những chính sách ưu đãi đối với họ.

         Để đạt được mục tiêu đó, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta cần tập trung vào thực hiện nhiều giải pháp cơ bản, như: Nâng cao vai trò quản lý điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế; Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế; Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội để thực hiện công bằng xã hội; Tăng cường hiệu quả của công tác phòng, chống quan liêu tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Bên cạnh những giải pháp chủ yếu trên còn phải thực hiện những giải pháp cụ thể, phù hợp với từng lĩnh vực và từng thời kỳ cụ thể. Các giải pháp này cũng cần được thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Tuy nhiên, với những vấn đề đặt ra đối với vai trò của Nhà nước trong thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay thì những giải pháp trên nếu được thực hiện đồng bộ, kịp thời sẽ có tác động tích cực nhất định đối với quá trình thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H.2021, tập 1, tr.14.

2. ĐCSVN: Sđd, tr.34.

3. ĐCSVN: Sđd, tr.37.

4. ĐCSVN: Sđd, tr.46.

5. ĐCSVN: Sđd, tr.46, 47.

6. ĐCSVN: Sđd, tr.64, 65.

7. ĐCSVN: Sđd, tr.84, 85.

8. ĐCSVN: Sđd, tr.221, 222.

 

Tin khác
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 4
  • Hôm nay: 33
  • Trong tuần: 3 117
  • Tất cả: 621469
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH TRÀ VINH
- Đơn vị quản lý: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Giấp phép thiết lập Trang thông tin điện tử số 09/GP-STTTT-BCXB do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 04/12/2015.
- Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Quốc Thới - Hiệu trưởng Trường Chính trị - Trưởng Ban Biên tập.
- Địa chỉ: xã Hòa Thuận - Châu Thành - Trà Vinh.
- Email: tctttv@travinh.gov.vn - Điện thoại: 02943 844179 Fax: 02943 844664.
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này