Quan điểm của C.Mác. Ph.Ăngghen về con người và sự vận dụng của đại hội XIII trong quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

ThS. Lê Thị Thúy An        
                                                         Giảng viên Khoa Lý luận cơ sở

          1. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người          

         Con người không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội. Vấn đề con người có phạm vi bao quát rộng, bao gồm những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội và luôn là vấn đề trung tâm trong lịch sử phát triển của nhân loại.

         Khi nghiên cứu về con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đều xuất phát từ con người trong tính hiện thực. Bởi vì, tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại một cách tự nhiên của những cá nhân con người.

         Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra”(1).

         Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên. Khi phê phán quan điểm sai trái của các trường phái duy tâm và siêu hình về con người, các ông nêu rõ, về mặt tự nhiên, “giới tự nhiên (...) là thân thể vô cơ của con người”(2), là kết quả của sự tiến hóa vật chất, là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được”(3). Theo nghĩa này, con người trước hết là một bộ phận của tự nhiên. Do đó, con người mang đầy đủ bản tính sinh học và tính loài. Mặt khác, con người không thụ động trước tự nhiên, mà ngược lại, “con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới”(4). Sự tác động của con người vào giới tự nhiên tăng dần theo nhu cầu và nhận thức của chính con người về điều kiện sống và tồn tại của mình.

         C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, vì sự tồn tại và phát triển, con người không chỉ tác động vào giới tự nhiên mà còn tiến hành các mối quan hệ trao đổi với nhau tạo thành xã hội loài người. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông khẳng định: “những điều kiện tồn tại của con người, ngay từ khi con người tách ra khỏi loài vật theo nghĩa hẹp, thì hoàn toàn chưa có sẵn, những điều kiện ấy trước hết phải được tạo ra bằng sự phát triển lịch sử tiếp theo đó. Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy loài vật; trạng thái bình thường của con người là trạng thái tương ứng với ý thức của họ và là trạng thái mà bản thân họ sáng tạo ra”(5).

         C.Mác, Ph.Ăngghen nhấn mạnh, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quy định bản chất con người, mà đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người và thế giới loài vật là quan hệ xã hội và lao động là hoạt động bản chất của con người.

         Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân con người. Trong quá trình đó, con người thường xuyên giao tiếp với nhau, thường xuyên trao đổi và đúc rút kinh nghiệm. Những hoạt động này diễn ra hằng ngày là một trong những tiêu chí phân biệt giữa con người với loài vật, làm phong phú bản chất người và tạo thành mối quan hệ xã hội.

         Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người không phải là những con người ở trong tình trạng biệt lập, cố định, mà đó là những “con người trong quá trình phát triển - quá trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều kiện nhất định”(6), tạo nên sự tác động qua lại giữa con người với con người và các mối quan hệ xã hội. Vì thế, các ông nêu quan điểm nổi tiếng: “Xã hội... Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người”(7) và “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(8).

         C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ luận giải mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội, mà còn nêu rõ vai trò sáng tạo ra lịch sử của con người. C.Mác chỉ rõ: “lịch sử xã hội của con người luôn luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người”(9). Con người tồn tại và phát triển đều phải thường xuyên tác động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên phục vụ cho những mục tiêu của mình, đó là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội loài người. Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, giới tự nhiên tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và con người cũng tác động vào giới tự nhiên, trao đổi với tự nhiên. Do vậy, Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người, cuối cùng là người chủ của tồn tại xã hội của chính mình, cũng đồng thời trở thành những người chủ của tự nhiên, người chủ của bản thân mình - trở thành những người tự do”(10). Quá trình đó là quá trình tương tác biện chứng giữa con người và giới tự nhiên.

         Khi xã hội hình thành và phát triển, con người đã tạo ra môi trường và điều kiện mới để vươn tới sự phát triển ngày càng cao trong sự gắn bó khăng khít, hài hòa với tự nhiên. Trong các mối quan hệ đó, con người giữ vị trí trung tâm, là chủ thể cải tạo giới tự nhiên và sáng tạo ra xã hội, đồng thời là bộ phận không tách rời của tự nhiên và xã hội. Vì thế, Ph.Ăngghen yêu cầu, con người không nên coi giới tự nhiên như kho tài nguyên vô tận để khai thác, “tước đoạt” chỉ vì lợi ích trước mắt của mình. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt mà khai thác giới tự nhiên theo kiểu “tước đoạt”, con người sẽ phải trả giá rất đắt về sự “trả thù của tự nhiên. Vì thế, con người không chỉ khai thác tự nhiên một cách hợp lý, mà còn phải biết trân trọng giữ gìn, tái tạo, bảo vệ môi trường tự nhiên. Nghĩa là, con người phải “nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng những quy luật đó một cách chính xác”(11).

         Từ việc nghiên cứu con người trong thế giới tự nhiên, xã hội và vai trò của con người trong đời sống xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen còn nêu mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, nô dịch, bất công và xây dựng con người phát triển toàn diện.

         Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “do đó kết cấu kinh tế của xã hội, của mỗi thời đại nhất định tạo nên cái cơ sở hiện thực ấy mà xét đến cùng, phải bằng cái cơ sở hiện thực ấy mà giải thích toàn bộ thượng tầng kiến trúc bao gồm những thể chế pháp luật và chính trị, cũng như những quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định”(12).

         Xuất phát từ quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra căn nguyên của những động cơ vật chất, đặc biệt là lợi ích kinh tế trong hoạt động lịch sử của con người. C.Mác khẳng định: “sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm, và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào. Do đó, phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta về chân lý vĩnh cửu và chính nghĩa vĩnh cửu, mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng”(13).

         Với quan niệm duy vật biện chứng về con người, lần đầu tiên trong lịch sử, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trở thành cơ sở khoa học cho sự phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người. Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”(14).

         2. Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong Đại hội XIII.

         Đại hội XIII của Đảng đã khái quát và đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội đất nước.

         Trước hết, lấy con người làm trung tâm và kiên định phát triển con người Việt Nam toàn diện. Đảng ta chủ trương: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm phát triển bền vững; phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân”15. Tại Đại hội XIII, tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã được đúc kết thành bài học, với những nguyên tắc cơ bản, định hướng mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn tới. Nghị quyết Đại hội tiếp tục khẳng định các giá trị, nội dung cốt lõi của bài học “lấy dân làm gốc”, đó là: Phải luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”. Bài học “lấy dân làm gốc” càng trở nên sâu sắc và có ý nghĩa hơn khi được thực thi một cách hiệu quả cùng với phát huy tối đa nguồn lực con người Việt Nam. Quan điểm về nguồn lực con người, đề cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển là tư tưởng nhất quán của Đảng. Thực hiện chủ trương trên, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cần: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”16; thực hiện phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”17. Nhấn mạnh thêm về con người là động lực của sự phát triển, Đảng ta khẳng định con người và nền văn hóa Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng, tạo môi trường, điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển, tài năng, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.

         Để phát huy sức mạnh nguồn lực con người cần phải hết sức quan tâm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền lợi của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Bảo đảm quyền con người phải là khâu kết nối cần thiết, không thể thiếu giữa khâu lấy con người làm trung tâm và phát triển con người toàn diện.

         Đi đôi với đường lối tiếp tục đổi mới phát triển kinh tế, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Trong đó, Đại hội nêu bật chủ trương: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”18.

         Đồng thời, coi trọng giáo dục, đào tạo để phát triển con người đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng đất nước, đặc biệt giáo dục thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới với chủ trương: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”19. Định hướng: “ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”20.

         Bên cạnh chủ trương, biện pháp về kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, Đại hội XIII của Đảng còn khẳng định vai trò của khoa học trong phát triển nguồn lực con người. Đảng chỉ rõ: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc”21; thực hiện “Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người”22.

         Đại hội cũng chỉ ra cần bảo vệ quyền và lợi ích của con người, của công dân, đặc biệt đề cập đến bảo vệ an ninh con người - bảo đảm và thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Tại Đại hội XIII của Đảng, lần đầu tiên xác định “an ninh con người”, bảo vệ “an ninh con người”, đặt nhân tố con người, an ninh con người làm trung tâm của mọi hoạt động. Bảo vệ an ninh con người vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội và xây dựng, phát triển đất nước trường tồn, thịnh vượng. Đại hội lần thứ XIII đề ra phương hướng: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”23. Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con người thực sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong mọi hoạt động thì nhất thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế thực sự dân chủ; trong đó ngày càng quan tâm đến dân chủ trực tiếp nhằm hiện thực hóa những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình cho xã hội, mà còn có ý nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiệm công dân. Thông qua quá trình dân chủ hóa, nguồn lực con người, trí tuệ của toàn dân được huy động và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.

         Có thể thấy rằng, quan điểm tại Đại hội XIII của Đảng về con người và phát triển con người sau hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước của Đảng ngày càng trở nên hoàn thiện. Trong mô hình phát triển của Việt Nam, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển. Vị trí của nhân tố con người trở thành trung tâm của sự phát triển kinh tế nói riêng và quá trình phát triển toàn diện nói chung, đó là sự nhất quán xuyên suốt trong tiến trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng quan điểm Đại hội XIII của Đảng về xây dựng, phát triển con người có ý nghĩa quan trọng, là yêu cầu tất yếu và cấp thiết ở các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp Nhân dân trong triển khai thực hiện, nhất là phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần thiết thực đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

         3. Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người trong thời kỳ mới

         Đảng ta luôn coi trọng việc phát huy nhân tố con người, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhờ đó mà đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì vấn đề phát huy nhân tố con người cũng còn những hạn chế nhất định, cho nên trong thoi gian tới để phát huy thành tựu đạt được theo tôi cần phải:

         Một là, tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với những vấn đề xã hội để con người Việt Nam phát triển toàn diện. Bảo đảm các điều kiện để con người được hưởng thụ chính sách xã hội trong cuộc sống. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

         Hai là, nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị về phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối đa tài năng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Muốn vậy, phải đánh giá đúng năng lực của từng người. Muốn đánh giá đúng năng lực của từng người cần căn cứ vào hiệu quả, kết quả công việc mà người đó đảm nhiệm. Trên cơ sở đánh giá đúng năng lực của từng người mới có giải pháp phát huy đúng sở trường của họ. Trong đó, chú ý đặc biệt tới lợi ích kinh tế. Giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - dân tộc là động lực sâu xa thúc đẩy con người hoạt động.

         Ba là, tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, phong phú về đời sống tinh thần, trong sáng về đạo đức, lối sống, có đủ thể chất và nhân cách văn hóa; biết suy nghĩ độc lập, tự chịu trách nhiệm, có tinh thần hợp tác, làm việc có hiệu quả; có tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, không ngại khó khăn, thách thức; xây dựng gia đình và xã hội đoàn kết, hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc, kỷ cương, nền nếp; có tinh thần tương thân, tương ái, tự nguyện, tự quản, dân chủ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

         Bốn là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững đất nước. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; mặt khác, khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn.

         Năm là, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các thiết chế văn hóa - thể thao, các sinh hoạt văn nghệ, hoạt động cộng đồng, phong trào văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và thể chất của nhân dân.

         Sáu là, mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa của các nước trên thế giới làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc; ngăn ngừa và đấu tranh chống sự xâm nhập văn hóa độc hại và lối sống đồi trụy, phản văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế. Chủ động hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng hóa các hình thức văn hóa đối ngoại.

         Bảy là, tăng cường đấu tranh phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Phát triển con người toàn diện là nhiệm vụ trung tâm đòi hỏi sự vào cuộc của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục. Trong đó, cần thường xuyên tăng cường đấu tranh phòng, chống suy thoái đạo đức, lối sống, khắc phục bệnh đạo đức giả, nói không đi đôi với làm; bệnh thành tích, giả dối, sống hai mặt. Bên cạnh đó, cần tăng cường đổi mới phương pháp, nội dung giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa, kỹ năng sống. Tích cực tuyên truyền nêu gương điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; phát hiện ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

         Quan điểm của Mác và Ph.Ăngghen về con người, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển lý luận về con người của xã hội loài người. Bởi vì, quan điểm của các ông không chỉ làm nổi bật sự quy định lẫn nhau của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội mà còn khẳng định vai trò to lớn của con người đối với sự phát triển của lịch sử loài người. Những quan điểm trên là cơ sở lý luận cho các đảng cộng sản nói chung, Đảng ta nói riêng vận dụng để phát huy vai trò của con người trong chiến lược phát triển đất nước bền vững. Hiện nay, cho dù CNXH hiện thực đang đứng trước những thử thách lịch sử to lớn, các thế lực thù địch đang tìm đủ mọi cách tấn công học thuyết Mác, nhưng với tư cách là một học thuyết cách mạng và khoa học, học thuyết Mác vẫn là thế giới quan, phương pháp luận cho Đảng và nhân dân ta trong nhận thức cải tạo thế giới, giải phóng và phát huy nhân tố con người, phát triển con người Việt Nam toàn diện trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

____________________________________________

         (1), (6), (8) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.3, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.28-29, 38, 11.

         (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.42, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.135.

         (3), (4), (5), (10), (11), (12), (13) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.20, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.475, 720, 673, 892, 655, 43-44, 371.

         (7), (9) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.27, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, tr.657, 657-658.

         (14) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, T.19, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.499.

         (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (22), (23). Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, tập 1, tr. 215 – 216, 213, 232 – 233, 143, 231, 54, 63-64, 267, 177.

image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 5
  • Hôm nay: 38
  • Trong tuần: 3 604
  • Tất cả: 618969
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH TRÀ VINH
- Đơn vị quản lý: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Giấp phép thiết lập Trang thông tin điện tử số 09/GP-STTTT-BCXB do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 04/12/2015.
- Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Quốc Thới - Hiệu trưởng Trường Chính trị - Trưởng Ban Biên tập.
- Địa chỉ: xã Hòa Thuận - Châu Thành - Trà Vinh.
- Email: tctttv@travinh.gov.vn - Điện thoại: 02943 844179 Fax: 02943 844664.
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này