GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ThS. Sơn Thị Thanh Loan    

Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng

         Văn hóa Hồ Chí Minh là hệ thống các giá trị do bản thân Người sáng tạo ra, trong đó văn hóa chính trị là một bộ phận hợp thành, giữ vai trò nền tảng, chi phối việc hình thành, phát triển các bộ phận khác. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa chính trị của một cá nhân - một nhà chính trị chuyên nghiệp - lãnh tụ chính trị vĩ đại của Đảng, của dân tộc Việt Nam, là kết quả của sự tích hợp và chắt lọc các giá trị bền vững trong văn hóa chính trị truyền thống của dân tộc và nhân loại, đặc biệt là giá trị văn hóa chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết mâu thuẫn của thực tiễn chính trị Việt Nam trong bối cảnh chung của tình hình chính trị thế giới. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hóa chính trị mang giá trị nhân văn, nhân đạo của tư tưởng và hành động chính trị thực tiễn do chính Người sáng tạo ra trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, được toàn thể nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đó là các giá trị tư tưởng, giá trị hành vi, giá trị nhân cách. Trong các giá trị trên, cơ bản nhất, có tầm quan trọng nhất là giá trị tư tưởng. Với tính cách là một chỉnh thể thống nhất giữa con người chính trị, hoạt động chính trị và sản phẩm chính trị nhằm giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn chính trị Việt Nam, giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh bao gồm:

         Thứ nhất, tri thức chính trị của Hồ Chí Minh

         Sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh là sự nghiệp tìm kiếm lý luận, kinh nghiệm và mô hình chính trị để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng nhân dân lao khỏi sự thống trị, áp bức, bóc lột, bất công. Vì vậy, Người đã lựa chọn cách thức tiếp thu và làm chủ tri thức chính trị hết sức thiết thực: đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào rồi về giúp đồng bào mình. Người đã đến nhiều nơi, nhiều trung tâm kinh tế, chính trị của Châu Âu và thế giới. Tại những trung tâm lớn như Pari, Newyork, London, Người đã tự đặt mình vào địa vị của các giai cấp, tầng lớp cần được giải phóng, không chỉ để thấu hiểu bản chất của chế độ chính trị mà ở đó người lao động đang là đối tượng bị bóc lột mà chính là để chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh của một giai cấp tiên tiến đang kiên quyết đấu tranh chống giai cấp tư sản.

         Không chỉ tiếp thu tri thức chính trị thông qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh còn dành nhiều thời gian để học ngoại ngữ và đến các thư viện, bảo tàng để đọc các tác phẩm lý luận, văn học, nghệ thuật của các nhà tư tưởng, chính trị, văn hóa lớn của Châu Âu và thế giới. Với khả năng ngoại ngữ xuất sắc, Người đã thông thạo lịch sử Châu Âu, Châu Mỹ, hiểu rõ diễn biến, kết quả của các cuộc cách mạng lớn ở phương Tây. Từ thực tiễn sinh động và nhiều tri thức đã thu nhận được thông qua tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo luôn bám sát mục đích Người đã rút ra những kết luận chính trị quan trọng, trở thành vốn tri thức chính trị phong phú, sâu rộng. Ngay sau khi đặt chân lên nước Pháp, Người đã kết luận “Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông Dương”1. Đây là kết luận quan trọng đầu tiên của Hồ Chí Minh trong nhận diện bạn, thù, xác định đồng minh của cách mạng và là cơ sở của kết luận “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”2.

         Sau khi nghiên cứu, khảo sát thực tế chế độ chính trị và mô hình nhà nước tư sản, đặc biệt khi Người đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lênin, Người đã khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người… sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc3. Với các cuộc cách mạng tư sản điển hình, Hồ Chí Minh kết luận: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mạng đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵn còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”4. Hay như khi chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân lao động ở thuộc địa và của giai cấp công nhân ở chính quốc, Người đã kết luận: “chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”5. Đặc biệt, việc tham gia hoạt động trong phong trào công nhân trong Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản Pháp đã giúp Hồ Chí Minh nhận rõ vai trò quan trọng của Đảng đối với sự thành bại của cách mạng. Người chỉ rõ: “cách mệnh… trước hết phải có đảng cách mệnh… Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”6. Với tri thức chính trị của mình, Hồ Chí Minh đã tiến hành chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi. Đặc biệt, kinh nghiệm tiếp thu tri thức chính trị đã được Người vận dụng trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng. Thông qua các lớp bồi dưỡng chính trị và tổ chức phong trào vô sản hóa, Người đã biến các thanh niên tiểu tư sản, tư sản yêu nước của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên thành những hạt nhân nòng cốt của Đảng và đào tạo được một thế hệ cán bộ thực sự tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, kiên cường, bất khuất, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

         Cùng với việc tìm kiếm tri thức để tiến hành lật đổ chế độ thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh còn tìm hiểu rất kỹ về mô hình, cách thức và nguyên tắc pháp lý của một nhà nước dân chủ. Tiếp thu mô hình nhà nước Xô viết của cuộc cách mạng tháng Mười Nga, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Người chủ trương xây dựng nhà nước công, nông, binh. Nhưng, khi về nước, căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam, Người đã điều chỉnh và đề nghị “không nên nói công nông liên hợp và lập chính quyền Xô viết, mà phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”7.

         Giá trị tri thức chính trị Hồ Chí Minh còn biểu hiện ở việc Người đã lựa chọn và tiếp thu hệ tư tưởng cách mạng nhất của thời đại để truyền bá về Việt Nam. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tiếp xúc với nhiều hệ tư tưởng, cả ở phương Đông và phương Tây, cả truyền thống và hiện đại, cả của dân tộc và nhân loại, nhưng xuyên qua tất cả, Người lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng chính trị của mình và sau đó là của cả dân tộc Việt Nam. Người khẳng định: “chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”8. Với quan điểm đó, Hồ Chí Minh luôn quán triệt sâu sắc, tiếp thu, vận dụng, sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, mang lại thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

         Tiếp thu hệ tư tưởng chính trị Mác - Lênin nhưng Hồ Chí Minh không rập khuôn máy móc mà luôn có sự phát triển sáng tạo, cụ thể như: Hồ Chí Minh thừa nhận đấu tranh giai cấp nhưng không coi đó là động lực chính của sự phát triển của xã hội, Người chủ trương xây dựng Nhà nước Dân chủ Nhân dân và từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu những thành quả mà loài người đã đạt được dưới chủ nghĩa tư bản… Hệ tư tưởng mà Hồ Chí Minh tiếp thu không chỉ là yếu tố bảo đảm cho tính đúng đắn, cách mạng, khoa học trong các quyết sách chính trị, ứng xử chính trị và đường lối chính trị, mà còn là ngọn cờ tư tưởng để đoàn kết, tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tín ngưỡng, tôn giáo thành một khối thống nhất trong Mặt trận dân tộc thống nhất để thực hiện mục tiêu chính trị phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân và xu thế thời đại.

         Như vậy, tri thức chính trị là một trong những điều kiện cần và đủ để các cá nhân tham gia vào đời sống chính trị. Với Hồ Chí Minh, tri thức chính trị vừa là một bộ phận cấu thành, vừa là yếu tố có vai trò to lớn làm nên tính cách mạng, khoa học, giá trị và sức sống cho văn hóa chính trị của Người.

         Thứ hai, niềm tin chính trị của Hồ Chí Minh  

Với tính cách là một bộ phận cấu thành của văn hóa chính trị, niềm tin chính trị Hồ Chí Minh là một niềm tin lý tính, sâu sắc, cách mạng, khoa học, có giá trị to lớn, cho phép Người đưa ra những dự báo chính xác trước những diễn biến phức tạp, mau lẹ của tình hình chính trị thế giới và trong nước. Với mục tiêu, lý tưởng và nhận thức chính trị của mình, Hồ Chí Minh luôn có một niềm tin chính trị sâu sắc vào quy luật khách quan và xu thế thời đại; tin vào học thuyết Mác - Lênin; tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tin vào mục tiêu, động lực, phương pháp của con đường cách mạng vô sản; tin vào sức mạnh của nhân dân; tin vào những phẩm chất tốt đẹp và khả năng hướng thiện của con người. Niềm tin chính trị Hồ Chí Minh là cơ sở để Người có thái độ, động cơ, cách ứng xử đúng đắn và quyết tâm cao nhất trong việc thực hiện các chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, như khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta lần thứ hai, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người tiếp tục khẳng định một niềm tin mãnh liệt rằng, “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta”9. Con trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước một kẻ thù mạnh hơn ta về nhiều mặt nhưng Hồ Chí Minh luôn tin rằng, dù chiến tranh có thể kéo dài nhưng nhân dân ta nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ.

         Trên cơ sở niềm tin chính trị, Hồ Chí Minh đã cùng với Đảng tích cực nắm bắt tình hình, có sách lược phù hợp, chuẩn bị tốt những điều kiện cần và đủ để khi thời cơ cách mạng xuất hiện đã chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ một cách triệt để, hiệu quả nhất. Niềm tin chính trị Hồ Chí Minh có sức lan tỏa mạnh mẽ đến các thế hệ cách mạng và quần chúng nhân dân, đã khích lệ ý chí, nghị lực, niềm tin và sức sáng tạo của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

         Thứ ba, phương pháp chính trị của Hồ Chí Minh

         Phương pháp chính trị là tổng hợp các cách thức, biện pháp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, lý tưởng chính trị, là khâu hết sức quan trọng của quá trình chính trị và có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của các quyết sách chính trị. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một trong những nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh nhằm thay đổi thể chế chính trị thuộc địa nửa phong kiến mà các sĩ phu yêu nước và nhân dân Việt Nam tiến hành trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là do chưa có phương pháp đấu tranh đúng đắn. Trên cơ sở nhận rõ những hạn chế về phương pháp của các bậc tiền bối, tiếp thu và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một hệ thống các phương pháp cách mạng đó là: lấy thực tiễn Việt Nam làm cơ sở để hướng đến mục tiêu cải tạo và phát triển đời sống chính trị của nhân dân; động lực cách mạng là toàn dân nên phải huy động lực lượng của toàn dân; kiên định về chiến lược nhưng linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, tích cực, chủ động tạo lực, lập thế và nắm bắt thời cơ cách mạng; giành thắng lợi từng phần để đi đến thắng lợi hoàn toàn... Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, các phương pháp trên đây luôn được Người sử dụng đồng thời với tính cách là một phương pháp tổng hợp. Với việc sáng tạo các phương pháp cách mạng, Hồ Chí Minh đã từng bước hiện thực hóa các mục tiêu chính trị đã xác định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

         Thứ tư, phong cách chính trị của Hồ Chí Minh

         Cùng với phương pháp chính trị Hồ Chí Minh, phong cách chính trị trở thành một yếu tố quan trọng cấu thành văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Phong cách chính trị Hồ Chí Minh là những nguyên tắc, lề lối được lặp đi, lặp lại trong hoạt động lý luận và thực tiễn chính trị, tạo nên sự khác biệt và những giá trị to lớn cho cách mạng Việt Nam, được biểu hiện trong quá trình tư duy chính trị, diễn đạt tư tưởng chính trị, ứng xử chính trị và sử dụng quyền lực chính trị. Với tính cách là một yếu tố cấu thành của văn hóa chính trị, phong cách chính trị Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn, chắt lọc tinh hoa từ nhiều hình mẫu chủ thể chính trị khác nhau. Ở đó, có nguyên tắc, nền nếp ứng xử của người lao động, chấp hành pháp luật; của người cách mạng; của người lãnh đạo, người quản lý. Tuy nhiên, tất cả những nguyên tắc, nền nếp, thói quen ứng xử chính trị đó đều xuất phát từ nhân dân và trở về với nhân dân. Tức là, Người luôn lấy việc bảo đảm quyền con người và quyền dân tộc làm tiêu chuẩn thước đo để nhìn nhận, đánh giá và ứng xử với những vấn đề chính trị cụ thể.

         Phong cách chính trị Hồ Chí Minh thể hiện tập trung nhất ở nguyên tắc hành động là “việc gì có lợi cho dân phải hết sức là, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”10. Nguyên tắc đó luôn được quán triệt và thể hiện xuyên suốt, nhất quán, chỉ đạo mọi ứng xử chính trị của Người, từ việc phân tích, đánh giá bản chất, vị trí, vai trò của các giai cấp trong xã hội, lựa chọn hệ tư tưởng, mô hình nhà nước đến việc xác định tiêu chí của một thể chế chính trị mới, cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước. Với phong cách chính trị Hồ Chí Minh: người dân là chủ thể của chính trị, một thể chế chính trị thực sự chính đáng phải là đại diện tin cậy cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp và phải đưa xã hội phát triển đúng quy luật khách quan, xu thế thời đại; nhà nước là của dân, do dân, vì dân; cán bộ, công chức là công bộc của dân; Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Phong cách chính trị Hồ Chí Minh không chỉ góp phần tạo nên thành công trong sự nghiệp chính trị của Người, đưa lại những thắng lợi to lớn có ý nghĩa thời đại cho cách mạng Việt Nam, mà còn phát huy cao độ vai trò của nhân dân trong đời sống chính trị, dù là người mù chữ cũng không đứng ngoài chính trị.

         Thật vậy, Hồ Chí Minh là nhà chính trị thực tiễn, mọi hoạt động của Người đều nhằm cải tạo và biến đổi hiện thực, đã đem lại cho nhân dân Việt Nam một sự thay đổi thật sự trong đời sống chính trị. Tri thức chính trị, niềm tin chính trị, phương pháp và phong cách chính trị của Hồ Chí Minh đã lan tỏa và tác động đến nhận thức, tình cảm, ý chí của mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, tất cả đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đi theo Đảng. Với chủ trương thiết lập một nền chính trị tất cả vì dân và một tấm gương suốt đời tận tụy làm công bộc của dân dù ở cương vị nào, Hồ Chí Minh cũng giành được niềm tin tuyệt đối của nhân dân, phát huy được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam cập bến vinh quang.

         Kế thừa và vận dụng sáng tạo các giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước với cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế cao như hiện nay cũng như những khó khăn, trở ngại của tình hình quốc tế, nhất là trước sự diễn biến phức tạp, khó lường của đại dịch Covid-19, Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo những giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước. Hàng loạt các quan điểm, tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được ban hành thể hiện sâu sắc tinh thần của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh.

         Trong đó, không thể không kể đến việc tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và những kết quả đạt được trong phòng chống đại dịch Covid-19.

         Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức từ ngày 25/01 đến ngày 01/02/2021 tại Hà Nội. Đây là kỳ Đại hội có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, đánh dấu mốc mở ra một bước chuyển quan trọng đưa nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới. Đại hội đã nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định các mục tiêu chiến lược lớn có giá trị định hướng và chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội không chỉ trong 5 năm của một nhiệm kỳ mà đề ra định hướng phát triển 10 năm đến 2030, tầm nhìn đến 2045. Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng đối với sự phát triển của đất nước như: Báo cáo chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; Báo cáo đánh giá thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng. Các văn kiện được thông qua tại Đại hội XIII của Đảng được xây dựng trên cơ sở tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

         Trên cơ sở nhận định tầm vóc và ý nghĩa lớn lao của Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sớm, bài bản, nghiêm túc, kỹ lưỡng, phát huy cao độ dân chủ, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

         Từ tháng 10 năm 2018, các tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội đã được thành lập. Từ năm 2019, Bộ Chính trị đã chỉ đạo các tiểu ban phối hợp với các cấp ủy nhiều địa phương, các trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo lớn của đất nước tiến hành các cuộc khảo sát, tổng kết thực tiễn về triển khai nghiên cứu một số công trình lý luận trọng điểm. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận thì đề cương và dự thảo các văn kiện được xây dựng, sửa chữa, bổ sung hàng chục lần trên cơ sở tiếp thu ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, quản lý trong cả nước và của đồng bào ta ở nước ngoài.

         Đặc biệt, Ban Chấp hành Trung ương còn chỉ đạo cho công bố dự thảo các văn kiện Đại hội để lấy ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn thể nhân dân và đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp rất tâm huyết, trí tuệ, quý báu. Các ý kiến đóng góp đã được chắt lọc, trân trọng tiếp thu tối đa để đưa vào văn kiện. Việc phối hợp, chia sẻ thông tin, các nhận định, đánh giá, dự báo, định hướng được các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân công thực hiện tốt, vừa đảm bảo tính đa dạng, phong phú của các văn kiện, vừa bảo đảm thống nhất.

         Tóm lại, trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo tri thức chính trị, phương pháp và phong cách chính trị Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã chung sức, đồng lòng làm việc một cách khoa học, kỹ lưỡng, qua nhiều bước, kết hợp chặt chẽ giữa thực tiễn và lý luận, giữa kiên định và đổi mới, giữa kế thừa và phát triển, trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi…., các văn kiện đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hoà quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Qua đó đã góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, ý chí và khát vọng phát triển đất nước, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Và hiện nay, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần có một nền tảng tri thức chính trị vững vàng, một niềm tin chính trị kiên định, một phương pháp chính trị khôn khéo và phong cách chính trị mang tính nhân văn, nhân đạo, tất cả những điều đó minh chứng cho sự trường tồn của những giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh. Giá trị tư tưởng trong văn hóa chính trị Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ vẫn là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp xây dựng một nền chính trị thực sự vì con người./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Dân Tiên (2001), Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Văn học, HN;

2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, tr.287NXB CTQG, HN;

3. Sđd, tập 1, tr.496;

4. Sđd, tập 2, tr.296;

5. Sđd, tập 2, tr.130;

6. Sđd, tập 2, tr.289;

7. Đảng Cộng sản Việt Nam(2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, tr.127, NXB CTQG, HN;

8. Sđd, tập 12, tr.563;

9. Sđd, tập 4, tr.534;

10. Sđd, tập 4, tr.51; 

11. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB CTQG, HN;

12. Hội đồng lý luận Trung ương (2021), Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, NXB CTQG, HN;

13. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Văn hóa và phát triển (2014),  Đề cương bài giảng Văn hóa chính trị Việt Nam;

14. Song Thành (2009), Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc, NXB LLCT, HN.

 

Tin khác
1 2 3 4 5  ... 
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 8
  • Hôm nay: 26
  • Trong tuần: 3 110
  • Tất cả: 621462
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH TRÀ VINH
- Đơn vị quản lý: ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Giấp phép thiết lập Trang thông tin điện tử số 09/GP-STTTT-BCXB do Sở Thông tin và Truyền thông cấp ngày 04/12/2015.
- Chịu trách nhiệm chính: Ông Phạm Quốc Thới - Hiệu trưởng Trường Chính trị - Trưởng Ban Biên tập.
- Địa chỉ: xã Hòa Thuận - Châu Thành - Trà Vinh.
- Email: tctttv@travinh.gov.vn - Điện thoại: 02943 844179 Fax: 02943 844664.
Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Trường Chính trị tỉnh Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này